Ðặc trưng sinh lí của âm tố

 - Người đăng bài viết: Thu Trang  - Chuyên mục :  Đã xem: 19 

Daytot.vn giới thiệu cho các em kiến thức Ðặc trưng sinh lí của âm tố

 

Ðặc trưng sinh lí của âm tố

Âm thanh lời nói được phát ra từ bộ máy phát âm. Tiöm hiểu mặt sinh lí của âm thanh lời nói, tất phải xem xét cấu tạo của bộ máy phát âm và cơ chế tạo âm thanh lời nói của bộ máy ấy.

a.  Bộ máy phát âm gồm: 1. Các cơ quan tạo năng lượng cho hoạt động phát âm là phổi, khí quản. 2. Các cơ quan tạo lập, khuếch đại và phát ra âm thanh là các bộ phận trong thanh hầu, trong khoang hầu, khoang miệng và khoang  mũi. Thanh hầu và các khoang nói trên là các cộng minh trường (hộp cộng hưởng) chứa nhiều bộ phận mà sự vận động của chúng có tác dụng tạo nên các âm thanh với các âm sắc khác nhau.

Thanh hầu giống như một cái hộp nằm phía trên của khí quản do bốn miếng sụn hợp lại, có tác dụng khuếch đại âm thanh được phát ra do sự dao động của dây thanh.

Dây thanh là hai cơ thịt mỏng dài chừng 2 cm sóng nhau theo chiều dọc trong thanh hầu. Dưới sự chỉ huy của hệ thần kinh, dây thanh có thể  mở ra, khép vào, căng lên, chùng xuống và dao động. Dây thanh của nam giới thường dày hơn  của nữ giới và dầy dần lên theo lứa tuổi, đặc biệt nhanh ở lứa tuổi dậy thì (nguyên nhân của hiện tượng vỡ tiếng).

Khoang hầu ở ngay trên thanh hầu, nằm phía dưới khoang miệng  và có một đường nhỏ thông lên khoang mũi. Nắp họng đóng vai trò của một cái van giúp cho đồ ăn thức uống chỉ đi vào thực quản, và không đi vào khí quản. Khoang hầu và khoang miệng, nhờ vào hoạt động của lưỡi và môi mà thể tích, hình dáng và lối thoát của khí có thể thay đổi rất linh hoạt Chúng có vai trò rất quan trọng trong việc tạo ra các âm với những âm sắc khác nhau. Giữa khoang hầu và khoang mũi có cái lưỡi con. Lưỡi con cũng có vai trò của một cái van thoát khí. Nó có tác dụng tạo ra sự khu biệt giữa âm miệng (buccal/oral) và âm mũi (nasale/nasal). Ngăn cách giữa khoang miệng và khoang mũi là vòm miệng mà phía trước là ngạc cứng hay cúa cứng, phía sau là ngạc mềm hay cúa mềm, cũng còn gọi là mạc. Sự phối hợp hoạt động của môi, lưỡi, răng, lợi, ngạc, mạc có thể tạo ra những chỗ cản đa dạng trong khoang miệng. Chúng là cơ sở để tạo ra các phụ âm.

b.  Cơ chế tạo  âm thanh:

Ðể phát âm, dưới sự điều khiển của hệ thần kinh, nói chung không khí từ phổi được đẩy qua khí quản, vào thanh hầu rồi thoát qua các cộng minh trường phía trên thanh hầu để thoát ra ngoài. Có thể thấy hai trường hợp. Trường hợp 1, không khí thoát ra làm rung dây thanh với một tần số nào đó đểï tạo nên một âm với một thanh điệu nhất định. Âm này nhỏ, được uốn nắn, được khuếch đại nhờ các cộng minh trường (thanh hầu, khoang hầu, khoang miệng, khoang mũi) để trở thành âm thanh lời nói. Trong trường hợp này, ta sẽ có các âm hữu thanh (sons sonores/voiced sounds). Nếu dây thanh có chu kì rung đều đặn, ta sẽ có âm chứa nhiều tiếng thanh. Ngôn ngữ học gọi các âm loại này là các âm vang. Các nguyên âm và các phụ âm mũi, phụ âm bên, phụ âm rung là các âm vang. Trường hợp nói thì thào, không khí từ phổi ra tuy mạnh nhưng dây thanh ở xa nhau và chỉ rung động rất nhẹ; ngôn ngữ học gọi các âm thì thào là các âm giọng thở (sons soufflés/breathed sounds).

Trường hợp 2, không khí thoát ra không làm rung dây thanh thì lượng khí  sẽ cọ xát, lách qua hoặc phá vỡ chỗ cản được tạo ra bởi các bộ phận hoạt động được của bộ máy phát âm để tạo ra âm, rồi được khoang hầu, khoang miệng, khoang mũi cộng hưởng, khuếch đại thành âm thanh lời nói. Ngoài cộng minh trường là thanh hầu chứa dây thanh, các cộng minh trường còn lại có tác dụng khống chế một số tần số này và tăng cường một số tần số khác tạo nên các hòa âm. Việc không khí cọ xát hoặc bật phá chỗ cản sẽ tạo nên những dao động có chu kì không đều đặn làm thành những tiếng động (tiếng ồn). Những âm có tiếng động, không có sự tham gia của tiếng thanh được gọi là các âm vô thanh (sons sourds/ voiceless sounds).

Tóm lại, để phát âm, bắt buộc phải có không khí được đẩy ra, tạo năng lượng phát âm; phải có hoạt động cấu âm của các cơ quan trong bộ máy phát âm. Khi phát âm, nói chung luồng hơi được đẩy ra từ phổi. Tuy nhiên, ở một số ít ngôn ngữ, có những âm thanh được phát ra từ khoang hầu hoặc từ mạc. Khi luồng hơi được phát ra từ khoang hầu, thanh hầu từ vị trí bình thường nhấc lên cao hơn hoặc hạ xuống thấp hơn và có tác dụng tạo âm; luồng hơi cũng có thể được phát ra từ mạc để tạo âm. Với người Việt, khi chặc lưỡi hay khi "pập pập" gọi gà (không phải âm thanh lời nói tiếng Việt), đã thực sự phát ra một âm loại này.

Những đặc trưng sinh lí nói trên thực chất là những đặc trưng cấu tạo âm thanh của bộ máy phát âm. Chúng được gọi là các đặc trưng cấu âm của các âm. Ngữ âm học sinh học (Phonétique physiologique/Physiologic phonetics) chuyên nghiên cứu các đặc trưng cấu âm ấy. Người ta cũng dùng thuật ngữ đặc trưng cấu âm - âm học để chỉ chung đặc trưng tự nhiên (vật lí, sinh lí) của âm thanh lời nói.

 


 
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

  Ẩn/Hiện ý kiến

Mã chống spam   

Những tin mới hơn

 

Những tin cũ hơn

Top