Ðặc trưng xã hội của âm vị

 - Người đăng bài viết: Thu Trang  - Chuyên mục :  Đã xem: 30 

Daytot.vn giới thiệu cho các em kiến thức Ðặc trưng xã hội của âm vị

 

Ðặc trưng xã hội của âm vị 

a. Sự hình thành khái niệm âm vị:

Xét âm tiết quãi, boàn, thưởn, khuỹa... và quai, bàn, thưởng, khuya... Chúng chỉ khác nhau một âm tố mà các âm tiết loại trên được người Việt coi là không có nghĩa; trái lại, những âm loại dưới lại được coi là có nghĩa, có nội dung biểu đạt. Nói cách khác âm thanh ngôn ngữ không phải là âm thanh đơn thuần mà là âm thanh được một cộng đồng ngôn ngữ tổ chức và dùng để biểu đạt.

Ðối với âm tố (đơn vị nhỏ nhất trong chuỗi âm thanh lời nói), vấn đề đặt ra là: với đặc trưng cấu âm - âm học nhất định, chúng có giá trị gì xét về mặt biểu đạt trong giao tiếp xã hội? Trường phái ngôn ngữ học Praha, như đã nói, một mặt tiếp tục chú ý đến bản chất tự nhiên của âm thanh ngôn ngữ, mặt khác, đã chú tâm tìm hiểu chức năng biểu đạt của các đơn vị ngữ  âm nhỏ nhất  để xây dựng nên khái niệm âm vị (phonème /phoneme).

Như thế:

Âm vị là đơn vị ngữ âm nhỏ nhất được một cộng đồng ngôn ngữ sử dụng để cấu tạo và phân biệt phần âm thanh của các đơn vị có nghĩa nhỏ nhất (hình vị, từ). Chức năng của âm vị là khu biệt nghĩa và giúp cho người nghe nhận diện được các hình vị và từ trong một ngôn ngữ nhất định.

Tùy theo đặc điểm riêng của mình, mỗi dân tộc lựa chọn trong số lượng vô hạn các âm tố trong chuỗi âm thanh lời nói để xác lập một số lượng hữu hạn các âm vị với những nét chung về mặt cấu âm - âm học và về mặt chức năng biểu đạt. Vì thế mỗi ngôn ngữ  có một hệ thống âm vị riêng , khác nhau cả về mặt số lượng âm vị cũng như về giá trị của từng âm vị. Thí dụ, trong tiếng Anh, có âm vị "i" đối lập với âm vị "i dài (sit [sit] ( seat [si:t]). Trong khi ở tiếng Pháp, tiếng Việt, hai âm ấy chỉ  là hai cách phát âm khác nhau của cùng một âm vị /i/. Tương tự, trong tiếng Việt có âm vị "tờ" (/t/), âm vị đờ" (/d/), nhưng trong tiếng Hán, "tờ" và "đờ" chỉ là hai cách phát âm khác nhau của cùng một âm vị. Dù có nói "đại đoàn kết" hay "tại toàn kết" thì cũng chỉ có một nội dung biểu đạt.

Về đặc điểm cấu âm - âm học của từng âm vị, do mỗi dân tộc khi phát âm tiếng nước mình, có thói quen sử dụng bộ máy phát âm riêng, thêm nữa, cấu tạo sinh lí của bộ máy phát âm cũng có nét riêng, nên về nguyên tắc, rất hiếm khi một âm vị của ngôn ngữ này có đặc trưng cấu âm - âm học giống hệt với một âm vị nào đó của một ngôn ngữ khác.

b. Nét khu biệt âm vị học và tiêu chí khu biệt:

·        Nét khu biệt:

Nét khu biệt còn được gọi là nét thỏa đáng âm vị học, và nét không khu biệt còn được gọi là nét không thỏa đáng âm vị học.

Giữa hai âm vị của một ngôn ngữ, có thể có một hoặc hơn một nét khu biệt. Thí dụ:

Một nét khu biệt:         /m/ Phụ âm mũi, vang, môi-môi

/n / Phụ âm mũi, vang, đầu lưỡi-lợi

Nhiều nét khu biệt:    /m/ Phụ âm mũi, vang, môi-môi

/t /  Phụ âm tắc, vô thanh, đầu lưỡi-lợi

Trong tiếng Việt, hai từ "má", "ná" khác nhau do một nét khu biệt (môi-môi / đầu lưỡi-lợi); hai từ "mi", "ti" khác nhau do nhiều nét khu biệt (mũi / tắc; vang / vô thanh; môi-môi / đầu lưỡi-lợi).

·       Tiêu chí khu biệt:

Nét khu biệt, như thế, rõ ràng là yếu tố có tính quy ước xã hội. Chúng được nhận diện trong những thế đối lập được gọi là những tiêu chí khu biệt. Tiêu chí khu biệt là những tiêu chí cấu âm - âm học mà ta dựa vào để chỉ ra các nét khu biệt của một âm vị với toàn bộ các âm vị còn lại trong hệ thống âm vị của một ngôn ngữ. Mỗi tiêu chí ấy luôn bao hàm trong nó một sự đối lập cấu âm - âm học nào đó.

Các tiêu chí khu biệt gồm:

Ðộ cao:    bao hàm sự đối lập cao / thấp, bằng phẳng / không bằng phẳng, có tác dụng khu biệt các thanh điệu;

Ðộ mạnh: bao hàm  sự  đối lập  mạnh / yếu, có  tác dụng  khu biệt trọng âm, không trọng âm;

Ðộ dài:    bao hàm  sự đối lập  dài / ngắn, có  tác dụng  khu biệt âm dài, âm ngắn;

Tính chu kì: bao hàm  sự  đối lập  đều / không đều, có tác dụng khu biệt âm vang, âm ồn;

Tính thanh: bao hàm  sự  đối  lập  dây thanh rung / không rung  có tác dụng khu biệt âm hữu thanh, vô thanh;

Cộng minh trường: bao hàm sự đối lập nơi uốn nắn và khuếch đại âm, có tác dụng khu biệt âm mũi/miệng/hầu;

Cách thoát hơi: bao hàm  sự  đối lập  bị cản / không bị cản, có  tác dụng  khu biệt nguyên âm, phụ âm; rung /bật phá /cọ xát chỗ cản có tác dụng khu biệt các loại phụ âm

Nơi cản: bao hàm  sự  đối lập  vị trí cản  luồng hơi thoát ra, có  tác dụng khu biệt phụ âm môi/răng/lợi/ngạc/họng/đầu lưỡi/mặt lưỡi/gốc (cuối) lưỡi;

Ðộ mở miệng: bao hàm sự đối lập rộng / hẹp trong các nguyên âm;

Hình dáng môi:  bao hàm sự đối lập chúm /không chúm, có tác dụng khu biệt âm tròn môi, không tròn môi;

v.v...

Hệ thống âm vị của một ngôn ngữ bao giờ cũng được sắp xếp dựa theo các tiêu chí khu biệt nói trên. Tuy nhiên, mỗi dân tộc đã sử dụng theo một cách riêng để lập nên hệ thống tiêu chí khu biệt âm vị học của ngôn ngữ mình.

Trên cơ sở khái niệm về nét khu biệt, có thể nói: Âm vị là "tổng thể những nét khu biệt được thể hiện đồng thời" (1). Sự khác biệt giữa nét khu biệt và âm vị là ở chỗ: nét khu biệt làm nên nội dung của âm vị, có tác dụng khu biệt các âm vị; còn âm vị là đơn vị ngữ âm học nhỏ nhất.

c. Sự thể hiện của âm vị trong lời nói  -  Các biến thể của âm vị:

·       Sự thể hiện âm vị trong lời nói:

Âm vị thể hiện trong lời nói dưới dạng âm tố và luôn kèm theo một sự biến đổi ngữ âm.

Âm vị của ngôn ngữ  được các con người cụ thể trong cộng đồng ngôn ngữ nói ra. Tùy người nói mà âm vị ấy, ngoài những nét cấu âm - âm học khiến nó đối lập với các âm vị còn lại trong hệ thống, lại có thể có các nét  cấu âm - âm học bổ sung khác nhau: khác nhau về độ cao, độ mạnh, độ dài, âm sắc và các đường nét cấu âm. Những đường nét cấu âm - âm học bổ sung này không tạo ra một sự khu biệt âm vị học nào mà chỉ tạo ra các âm tố, các biến thể của âm vị, nên được gọi là những nét không khu biệt.

Trong nói năng, người ta không phát âm từng âm vị riêng lẻ mà phát âm các từ bao gồm một hoặc nhiều âm tiết. Mỗi đơn vị phát âm nhỏ nhất này thường gồm nhiều âm tố. Do ảnh hưởng các âm tố kế cận mà một âm tố được phát ra thường cũng có kèm theo một số đường nét cấu âm - âm học bổ sung, tạo ra một sự biến đổi ngữ  âm nhất định. Những đường nét cấu âm - âm học bổ sung này có tính bắt buộc, tất yếu, có tác dụng phụ trợ cho chức năng khu biệt nghĩa, nhận diện từ của âm vị nên được các nhà ngôn ngữ học gọi là những nét rườm âm vị học.

Như vậy: 1) Nét khu biệt là đường nét cấu âm - âm học làm nên một âm vị có chức năng khu biệt nghĩa, nhận diện từ. 2) Nét rườm âm vị học là đường nét cấu âm - âm học bổ sung, được tạo ra do sự chi phối của các âm kế cận có chức năng phụ trợ cho việc khu biệt nghĩa, nhận diện từ. 3) Nét không khu biệt là đường nét cấu âm - âm học bổ sung có tính cá nhân do ngưòi nói tạo ra, không có chức năng khu biệt nghĩa. 4) Âm vị được thể hiện trong thực tế dưới dạng các âm tố; âm tố là sự thể hiện trong thực tế của âm vị, là hình thức tồn tại trong thực tế của âm vị. Âm vị là một đơn vị được trừu tượng hóa từ vô số âm tố cụ thể trong lời nói của cộng đồng ngôn ngữ. Nó có tính trừu tượng, tính xã hội; còn âm tố có tính cụ thể, cá nhân. Vì vậy, sự thể hiện âm vị trong lời nói luôn kèm theo sự biến đổi ngữ âm. 5) Sự biến đổi ngữ âm làì sự bổ sung những đường nét cấu âm - âm học xảy ra trong quá trình thể hiện âm vị trong lời nói; đó là hiện tượng do tính chất cá nhân của âm tố, do ảnh hưởng qua lại của các âm tố kế cận khi phát âm. Những đường nét cấu âm - âm học bổ sung này làm nên các âm khác nhau nhưng các âm này vẫn thuộc về một âm vị. Chúng chỉ là những dạng thể hiện khác nhau của một âm vị - những biến thể (variants) của âm vị.

·        Các loại biến thể của âm vị:

Về mặt lí thuyết, có bao nhiêu lần phát âm thì có bấy nhiêu biến thể âm vị. Tuy nhiên, có thể xếp chúng vào hai loại: biến thể kết hợp và biến thể tự do.

Các biến thể kết hợp là các biến thể xuất hiện do sự chi phối của các âm xung quanh mà âm ấy kết hợp với. Nói cách khác, đó là biến thể xuất hiện do sự chi phối của chu cảnh. Ðây là loại biến thể có tính bắt buộc, tất yếu. Người ta thường phân biệt hai dạng biến thể kết hợp. Dạng tiêu thể là dạng ít bị chi phối bởi hoàn cảnh phát âm xung quanh; dạng biến thể là dạng bị ảnh hưởng nhiều bởi hoàn cảnh phát âm xung quanh. Thí dụ: Trong tiếng Việt:

Khi miêu tả một âm vị, ta phải chỉ ra những đặc điểm cấu âm - âm học khiến nó đối lập với các âm vị khác trong hệ thống, tức là chỉ ra tổng thể những nét khu biệt âm vị học của nó; đồng thời phải chỉ ra khả năng kết hợp của nó với các âm vị khác, các dạng cụ thể của nó trong các âm tố cụ thể (tiêu thể và biến thể).

Thí dụ: Miêu tả âm vị /u/ trong tiếng Việt:

Không cần phải chỉ ra các biến thể tự do khi miêu tả một âm vị.

            Tóm tắt về âm tố và âm vị:      

Nét khu biệt âm vị học: Ðường nét cấu âm - âm học tạo nên âm vị, có tác dụng khu biệt nghĩa, giúp ta nhận diện các đơn vị có nghĩa nhỏ nhất (hình vị, từ)

Nét rườm âm vị học: Ðường nét cấu âm - âm học bổ sung do ảnh hưởng của các âm kế cận trong nói năng, có tác dụng giúp thêm vào việc khu biệt nghĩa, nhận diện đơn vị có nghĩa nhỏ nhất.

Nét không khu biệt: Ðường nét cấu âm - âm học bổ sung do cá nhân người nói tạo ra, không có tác dụng khu biệt nghĩa, nhận diện từ.

Âm tố: Ðơn vị ngữ âm nhỏ nhất trong lời nói, ứng với một yếu tố cấu âm. Nó là tổng thể những nét khu biệt và những nét không khu biệt.

Âm vị: Ðơn vị ngữ âm nhỏ nhất của ngôn ngữ, có chức năng khu biệt nghĩa, nhận diện từ. Nó là tổng thể những nét khu biệt âm vị học, là đơn vị ngữ âm được xem xét đầy đủ về mặt xã hội.

Quan hệ âm tố, âm vị

Âm tố là sự thể hiện trong thực tế của âm vị, là hình thức tồn tại của âm vị. Âm vị tồn tại trong âm tố, được thể hiện ra trong thực tế bằng âm tố.

Âm tố thì cụ thể, thuộc lời nói, có tính cá nhân, ngẫu nhiên; âm vị thì trừu tượng, thuộc ngôn ngữ, có tính xã hội, tất yếu.

Âm tố thì vô hạn, âm vị thì hữu hạn. Âm vị được trừu tượng hóa từ âm tố; âm tố là biểu tượng vật chất của âm vị.

Với người nghiên cứu, âm tố có trước, âm vị có sau. Phải trừu tượng hóa hàng loạt âm tố mới tìm ra âm vị. Với người học ngôn ngữ, âm vị được học trước, âm tố được học sau. Phải rèn luyện, học tập mới có thể nhận biết âm tố. Chữ cái hoặc tổ hợp chữ cái, nói chung, dùng để ghi âm vị, không dùng để ghi các biến thể của âm vị. Tùy dân tộc mà chữ cái dùng để ghi âm vị rất khác nhau.

Ngữ âm học là khoa học nghiên cứu âm thanh của một hay nhiều ngôn ngữ. Âm vị học là khái niệm được dùng từ giữa thế kỉ 19 và trở thành khoa học vào đầu thế kỉ 20. Nó nghiên cứu âm với những đặc điểm cấu âm - âm học và chức năng xã hội của chúng trong từng ngôn ngữ. Mỗi dân tộc từ trong số lượng vô hạn các đơn vị ngữ âm, đã lựa chọn, trừu tượng, khái quát hóa, tổ chức chúng thành một hệ thống các âm vị có số lượng hữu hạn, có cấu trúc nội bộ chặt chẽ, lập nên kiến trúc ngữ âm của một ngôn ngữ. Số lượng âm vị của các ngôn ngữ trên thế giới dao động trong khoảng từ 13 đến 81 âm vị. Nghiên cứu cơ sở âm thanh của một ngôn ngữ  là phải nghiên cứu đầy đủ cả hai mặt tự nhiên (vật lí, sinh lí) và xã hội (chức năng giao tiếp) của nó, không thể cắt chia ngữ âm học và âm vị học một cách siêu hình.


 
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

  Ẩn/Hiện ý kiến

Mã chống spam   

Những tin mới hơn

 

Những tin cũ hơn

Top