HIỆN TƯỢNG TRÁI NGHĨA CỦA TỪ

 - Người đăng bài viết: Thu Trang  - Chuyên mục :  Đã xem: 76 

Daytot.vn giới thiệu cho các em kiến thức HIỆN TƯỢNG TRÁI NGHĨA CỦA TỪ

 

HIỆN TƯỢNG TRÁI NGHĨA CỦA TỪ 

 1. Quan niệm về từ trái nghĩa:

          Cũng như quan niệm về hiện tượng đồng nghĩa, về hiện tượng trái nghĩa cũng có nhiều ý kiến khác nhau .

          Có tác giả cho rằng từ trái nghĩa là những từ khác nhau về ngữ âm, đối lập đối lập về ý nghĩa biểu hiện khái niệm tương phản về lôgíc, nhưng tương liên lẫn nhau. [ 7, 232 ]

              Do dựa vào khái niệm cho nên tiêu chí mối quan hệ tương liên trở thành một vấn đề cần được thuyết minh và chiếm một vị trí quan trọng. Thí dụ: Bé và xinh trong Nhà này tuy bé mà xinh ; đẹp và lười trong Cô ấy đẹp nhưng lười xuất hiện trong các cấu trúc ngữ pháp mang ý nghĩa đối lập nhưng chúng không phải là các từ trái nghĩa vì chúng không có quan hệ tương liên. Tương liên là một khái niệm mơ hồ, có thể gây nhiều tranh luận khi giải quyết các trường hợp cụ thể.

          Có ý kiến lại cho rằng trái nghĩa có quan hệ với hiện tượng đồng nghĩa.Trái nghĩa và đồng nghĩa là chỉ là những biểu hiện cực đoan của hai quan hệ đồng nhất và đối lập [ 4, 183 ]. Tuy nhiên quan điểm này vẫn còn quá chung chung, chưa cụ thể.

                   Cần phải nhận thấy rằng các từ được xem là trái nghĩa điển hình trước hết phải có các nét nghĩa khái quát trong cấu trúc biểu niệm giống nhau. Chẳng hạn, các cặp từ trái nghĩa to- nhỏ; dài-ngắn...giống nhau ở nét nghĩa phạm trù và nét nghĩa loại. Nét nghĩa này có thể thay thế cho tiêu chí tương liên đã nói ở trên .Từ đó có thể đi đến một cách hiểu về từ trái nghĩa như sau:

                   Từ trái nghĩa là những từ có một số nét nghĩa khái quát trong cấu trúc biểu niệm giống nhau, bên cạnh đó, nổi bật lên ít nhất một nét nghĩa đối lập.

      2. Phân loại từ trái nghĩa:

          Từ sự khảo sát trên,có thể thấy hiện tượng trái nghĩa xảy ra ở hai mức độ khác nhau: trái nghĩa tuyệt đối và trái nghĩa tương đối.

          2.1. Trái nghĩa tuyệt đối (hay trái nghĩa thực sự):

          Ðây là trường hợp trái nghĩa giữa các từ thoả mãn các tiêu chí sau: 1) Bên cạnh những nét nghĩa khái quát giống nhau, giữa các từ có xuất hiện nét nghĩa đối lập; 2) Chúng nằm ở vùng liên tưởng nhanh nhất, mạnh nhất, có tần số xuất hiện cao nhất. Nói nôm na, hễ có A  là người ta liên tưởng đối lập ngay tới B. Thí dụ:

                   Dài / ngắn         rộng / hẹp         to / nhỏ           cao /thấp

                   sớm / muộn          cứng / mềm           quen /lạ          yêu /ghét

             2.2. Trái nghĩa tương đối:

                   Là trường hợp trái nghĩa giữa các từ chỉ thỏa mãn tiêu chí 1) mà không thỏa mãn tiêu chí 2). Tức đấy là các trường hợp trái nghĩa nằm ở vùng liên tưởng yếu, nghĩa là nói tới A người ta không liên tưởng đối lập ngay tới B. Thí dụ:

                   Nhỏ / khổng lồ        thấp / lêu nghêu       cao / lùn tịt                               

                   Trái nghĩa và đồng nghĩa là hai hiện tượng phổ biến trong các ngôn ngữ, nói chung, và trong tiếng Việt, nói riêng; tuy nhiên những nghiên cứu và giải đáp về nó vẫn còn chừng mực.


 
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

  Ẩn/Hiện ý kiến

Mã chống spam   

Những tin mới hơn

 

Những tin cũ hơn

Top