CUỘC KHỦNG HOẢNG KINH TẾ 1929

 - Người đăng bài viết: nguyễn thị linh  - Chuyên mục :  Đã xem: 102 

Trung tâm Dạy tốt giới thiệu tới bạn đọc về cuộc khủng hoảng kinh tế năm 1929. Mời bạn đọc tham khảo.

 

CUỘC KHỦNG HOẢNG KINH TẾ 1929

Cuộc khủng hoảng kinh tế 1929 – 1933 chẳng những tàn phá nền kinh tế mà còn gây ra hậu quả tai hại về mặt chính trị và xã hội cho Chủ nghĩa tư bản. Khủng hoảng kinh tế là biểu hiện rõ nhất sự phát triển không đồng đều, thậm chí có sự khác nhau về mô hình chính trị để giải quyết khủng hoảng kinh tế giữa các nước Tư bản. Điển hình trong giai đoạn 1929 – 1933 là ba nước Mỹ, Đức và Nhật Bản. Vậy ba nước (Mỹ, Đức và Nhật Bản) đã lựa chọn mô hình chính trị như thế nào để giải quyết khó khăn?
*Nước Mỹ 
Để giải quyết khủng hoảng kinh tế đen tối nhất trong lịch sử, nước Mỹ vẫn duy trì mô hình chính trị “Cộng Hòa Tổng Thống”, dựa trên nguyên tắc “Tam quyền phân lập” bao gồm quyền hành chính (chính phủ), tư pháp (tòa án), luật pháp (quốc hội) nhằm hạn chế quyền lực, trong đó Quốc Hội có khả năng kìm chế quyền lực của Tổng Thống,… Nhưng muốn giải quyết những khó khăn mà khủng hoảng đem lại, nước Mỹ đã tiến hành các biện pháp cải cách dân chủ trong nước. Ủng hộ những chính sách chính phủ đưa ra, đứng đầu là Tổng thống Ru-giơ-ven đã nhận được sự hưởng ứng nhiệt tình của Hạ viện trong Quốc hội. Trái hẳn với Thượng Viện, Hạ viện trong Quốc hội Mỹ được bầu trực tiếp do dân bầu ra, cho nên, họ đại diện cho quyền lợi của nhân dân. Vì thế, trong giai đoạn này, Hạ viện có vai trò gắn kết quần chúng nhân dân Hoa Kỳ sát cánh cùng chính phủ giải quyết những khó khăn. Hạ viện có tiếng nói quan trọng ở Quốc hội, trở thành lực lượng tích cực thúc đẩy các chính sách cải cách dân chủ tiến bộ được thực hiện. Do đó, cán cân quyền lực giữa Hạ viện và Thượng viện trong Quốc hội có sự thay đổi lớn nghiêng về Hạ viện.
Tuy nhiên, đứng trước cuộc khủng hoảng lớn được lịch sử Hoa Kỳ gọi với cái tên “ngày thứ năm đem tối”, ở Mỹ quyền hạn của Tổng thống về vấn đề giải quyết khủng hoảng từ sau khi Ru-giơ-ven lên nắm quyền (1932), thì quyền hạn có phần“nới lỏng”. Bằng chứng, trong lễ nhậm chức Tổng thống Ru-giơ-ven có bài phát biểu với dân chúng Mỹ, ông đề nghị nới rộng quyền hành của Tổng thổng, để ông có thể đương đầu với những thảm họa quốc gia và khắc phục nó (Khủng hoảng kinh tế 1929-1933), Ru-giơ-ven nhận được sự đồng tình ủng hộ của Quốc Hội, đặc biệt là Hạ viện. Đã tạo điều kiện quan trọng cho các chính sách cải cách dân chủ được thực hiện sâu rộng trong nước. Kết quả, nước Mỹ dưới thời Ru-giơ-ven trong giai đoan từ sau 1932 đã dần đưa đất nước thoát khỏi khung hoảng và ổn định trở lại.
*Nước Đức
Trải hẳn với nước Mỹ, nước Đức thoát khỏi khủng hoảng kinh tế 1929-1933 bằng con đường phát xít hóa bộ máy nhà nước, tức là vũ trang quân sự nhằm gây chiến tranh xâm lược để đưa khủng hoảng ra bên ngoài. Để có thể xây dựng mô hình nhà nước Phát xít và giải quyết khủng hoảng, đòi hỏi phải có tập trung quyền lực lớn vào trong tay một người. Năm 1934, Tổng thống Hinđenbua chết, Hitle thủ tướng đương nhiệm tuyên bố xóa bỏ hiến pháp Vaima (hiến pháp tiến bộ của nền Cộng hòa tổng thống), tiến hành nhất thể hóa quyền lực vào trong tay một nguyên thủ-Hitle. Cùng với đó, Hitle thực hiện Quốc xã hóa nhà nước, tức quân sự hóa bộ máy chính trị, tích cực chuẩn bị cho chiến tranh xâm lược ra bên ngoài. Hitle thao túng Quốc hội và cho xóa bảo quyện hạn của các bang địa phương, đã đẩy nhanh việc tập trung quyền lực và phít xit hóa nhà nước cao độ. Kết quả, nước Đức đã xác lập được mô hình chính trị độc tài phát xít, lịch sử gọi là Đế chế thứ 3 và trở thành một trong ba lò lửa của Đại chiến thế giới thứ hai.
* Nước Nhật Bản
Cùng chung một con đường với nước Đức, Nhật Bản cũng chọn mô hình chính trị nhà nước theo con đường quân phiệt hóa bộ máy chính trị nhằm gây chiến tranh xâm lược để đưa khủng hoàng ra bên ngoài đất nước. Mô hình chính trị của Nhật trong giai đoạn 1929-1933 là “Quân chủ lập hiến” , đứng đầu nhà nước là Thiên Hoàng. Tuy nhiên, Thiên Hoàng bị hạn chế về quyền lực, thực chất quyền lực rời vào tay Thủ tướng và Quốc hội. Dị biệt hơn so với nước Đức , Nhật Bản từ rất sớm đã hình thành mô hình chính trị quân phiệt. Khủng hoảng kinh tế, trở thành điều kiện lý tưởng cho nước Nhật đẩy mạnh quá trình quân phiệt bộ máy nhà nước. 
Xu hướng tiến tới một xã hội độc tài ở Nhật Bản ngày càng hiện rõ. Bằng sự kiện 1/1926 tướng Tanaca một phần tử quân phiệt phản động đã thành lập chính phủ mới, mở đầu cho thời kỳ quân phiệt hóa bộ máy nhà nước ở Nhật Bản. Đến giai đoạn 1929-1933, vai trò của Chính phủ, đứng đầu Thủ tướng ngày càng lớn dần lấn át quyền lực của Quốc hội và các thể lực dân chủ trong nước, tất cả nhằm mục tiêu đẩy những kho khăn kinh tế như thiếu nguyên liệu, thị trường…ra bên ngoài bằng con đường chiến tranh. Tháng 2/1937 tướng Haiaxi tuyên bố giải tán Quốc hội, đánh dấu mốc ở nước Nhật đã hoàn thành quá trình quân sự hóa bộ máy chính trị. Quyền lực của Thủ tướng ngày càng lớn, cán cân quyền lực giữa Thủ tướng và Quốc hội ngày càng chênh lệch lớn nghiêng về Chính phủ-Thủ tướng. Thủ tướng có quyền lực lớn vạch ra con đường giả quyết khủng hoảng và Thiên Hoàng phê chuẩn. Kết quả, Nhật Bản bằng con đường quân phiệt bộ máy chính trị và tập trung quyền lực cao độ vào trong tay một người(Thủ tướng) đã có tác dụng đưa đất nước thoát khỏi khủng hoảng và trở thành lò lửa chiến tranh ở khu vực châu Á – Thái bình Dương.
Tóm lại, dưới tác động của cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới, ba nước Mỹ, Đức và Nhật Bản đã lựa chọn cho quốc gia mình một con đường, một lối thoát riêng. Nhưng cả ba nước đều chung một mục đích: đưa đất nước thoát khỏi khủng hoảng và ổn định đời sống nhân dân. Tuy nhiên, sự khác nhau về cách thức giải quyết giữa Mỹ và Đức, Nhật Bản đã tác động đến mô hình chính trị của các quốc gia, trở thành mô hình chính trị đặc biệt trong thế kỷ XX. Hạn chế quan trọng trong mô hình chính trị giải quyết khủng hoảng của nước Đức và Nhật Bản là tập trung quân sự lớn và gây ra cuộc chiến tranh lớn nhất trong lịch sử nhân loại – Đại chiến thế giới thứ 2. Điểm giống nhau quan trọng giữa Đức và Nhật đó là lực lượng quân sự nắm quyền lớn trong bộ máy chính trị cũng như trong đời sống chính trị của hai đất nước. Và là điểm phân biệt rõ ràng nhất của ba nước trong con đường giải quyết khó khăn.

xem thêm: cách mạng tháng Mười Nga, cách mạng Nga năm 1905


 
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

  Ẩn/Hiện ý kiến

Mã chống spam   

Những tin mới hơn

 

Những tin cũ hơn

Top