Câu nghi vấn

 - Người đăng bài viết: Thu Trang  - Chuyên mục :  Đã xem: 61 

Thuật ngữ về câu nghi vấn của Daytot.vn cung cấp, giúp các em tham khảo những kiến thức khác với SGK

 

KHÁI QUÁT VỀ CÂU NGHI VẤN 

1. Khái niệm:
-  Câu nghi vấn 
là câu có từ nghi vấn như ai, gì, nào, đâu, mấy, sao, bao giờ, bao lâu, bao nhiêu; à, ư, hả, chăng, chứ, (có)… không, (đã)…chưa, v.v. hoặc từ hay nối các vế có mối quan hệ lựa chọn. 

Dĩ nhiên sẽ nảy sinh vấn đề: Có phải câu nào có những từ như trên cũng đều là câu nghi vấn không?

Để giải quyết vấn đề này cần chú ý những phân biệt quan trọng sau đây:

a/. Phân biệt từ nghi vấn và từ phiếm định. Trong tiếng Việt những từ  như ai, gì, nào, đâu, mấy, sao, v.v. có hai chức năng chính: hoạt động vừa với tư cách là từ nghi vấn, vừa với tư cách là từ phiếm định. Sự phân biệt hai chức năng này của nhóm từ trên nhiều khi rất tinh tế. 

 Khi ai, gì, nào, đâu, v.v. kết hợp/có khả năng kết hợp với cũng (đứng trước cũng, như: ai cũng, gì cũng, nào cũng, đâu cũng, v.v.) và/hoặc kết hợp/có khả năng kết hợp với bất kỳ/bất cứ (đứng sau bất kỳ/bất cứ, như: bất kỳ ai, bất kỳ cái gì, bất kỳ cái nào, bất kỳ đâu, v.v.) thì chúng được xác định là từ phiếm định.

So sánh:

(Bất kỳ) Ai cũng đọc sách. với Ai đọc sách?

(Bất kỳ) Điều  cô ấy cũng biết. với Cô ấy biết điều ?

(Bất kỳ) Nhà nào nó cũng thích. với Nó thích nhà nào?

(Bất kỳ) Lúc nào nó cũng cười. với Lúc nào nó cười?

(Bất kỳ) Ai cũng đồng y  với   Ai đồng ý?

Anh ấy đi (bất kỳ) đâu cũng được. với Anh ấy có thể đi đâu?

Nó đến thì (bất kỳai cũng tiếp đón. với  Nó đến thì ai tiếp đón?

Bài này dễ (bất kỳ) ai cũng làm đượcvới Bài này khó thế ai mà làm được?

Nó có thể làm bất kỳ việc . với  Nó có thể làm việc ?

b. Khi ai, gì, nào, đâu, v.v. kết hợp với từ phủ định như không, chẳng (đứng sau không, chẳng, như: không/chẳng ai, không/chẳng gì, không/chẳng việc/cái nào, không/chẳng đâu, v.v.) và có thể có thêm ca (đứng trước ca, như không/chẳng ai ca, không/chẳng gì cả, không/chẳng việc/cái nào ca, không/chẳng đâu ca, v.v) thì chúng được xác định là từ phiếm định, còn khi những từ này kết hợp với từ phủ định như chẳng, không, chưa, nhưng đứng trước những từ này (như: ai chẳng/không, gì chẳng/không, việc/cái nào chẳng/không, đâu chẳng/không, v.v.) thì chúng được xác định là từ nghi vấn.

So sánh:

Không ai đồng ý (cả) với   Ai không đồng ý?

 chẳng thích  cái  (cả). với Cái gì mà nó chẳng thích?

Hắn chẳng đọc cuốn nào (cả). với  Cuốn nào mà hắn chẳng đọc?

Chẳng bao giờ nó làm như vậy (cả). với Bao giờ nó chẳng làm như vậy?

Từ sáng đến giờ, anh chưa ăn  (cả). với  Từ sáng đến giờ, anh ăn gì chưa?

c. Khi ai, gì, nào, đâu, v.v nằm trong kết cấu đối ứng như: ai…(người) nấy; gì…(cái) nấy; nào…nấy; đâu…đấy; v.v; chẳng hạn: Ai làm (người) nấy chịu; Gieo  thì gặt nấy; Cha nào con nấy; Ở đâu có áp bức, ở đấy có đấu tranh; v.v. thì chúng được xác định là từ phiếm định.

d. Những hình thức lặp như đâu đâu, gì gì, v.v. không bao giờ là phương tiện đánh dấu câu nghi vấn, ví dụ: Anh ấy chỉ đâu đâu!; Nó nói gì gì đâu!; v.v.

2/. Phân biệt trường hợp từ nghi vấn thuộc về kết cấu làm bổ ngữ trong câu, khi đó câu chứa nó không phải là câu nghi vấn.

So sánh:

Tôi không biết nó ở đâuvới Nó ở đâu?

Bây giờ khoan hỏi làm thì được cái với  Làm thì được cái gì?

Anh đoán thử đây là cái gìvới  Đây là cái gì?

Đếm xem có bao nhiêu cuốn sách. với Có bao nhiêu cuốn sách?

3/. Từ nghi vấn không, chưa, bao giờ cũng đặt sau vị từ trung tâm, trong khi từ phủ định không, chưa bao giờ cũng đặt trước.

So sánh:

Nó chưa/ không đivới     Nó đi chưa/không?

Anh ấy chưa / không làm. với   Anh ấy làm chưa / không?

- Như chúng ta đều biết, từ hay không chỉ xuất hiện trong câu nghi vấn mà còn xuất hiện trong các kiểu câu khác, đặc biệt là câu trần thuật. Nhưng từ hay trong câu nghi vấn không thể thay thế bằng từ hoặc.

So sánh:

Nó đi Hà Nội hay/hoặc Hải Phòng. với  Nó đi Hà Nội hay (* hoặc) Hải Phòng?

Anh có thể đi hay/hoặc ở lại (tùy anh). với   Anh có thể đi hay (* hoặc) ở lại?

Do ảnh hưởng của các ngôn ngữ châu Âu, đôi khi trong các văn bản tiếng Việt  xuất hiện kiểu câu nghi vấn như  Tôi có thể trở thành bác sĩ?. Vậy dấu hiệu hình thức của câu nghi vấn này là gì? Kiểu câu này chỉ có hình thức nghi vấn khi được dùng trong văn bản viết (dấu chấm hỏi ở cuối câu) vì người Việt không thể phát âm câu này với một ngữ điệu nào đó riêng để người nghe hiểu đó là câu hỏi. Câu trên có thể viết lại là: Tôi có thể trở thành bác sĩ được không?.

Có tác giả cho từ “còn” ở đầu câu kết hợp với ngữ điệu nghi vấn là dấu hiệu của câu nghi vấn, ví dụ: Còn nguy cơ thứ ba? (Diệp Quang Ban 1996: 234). Chúng tôi cho rằng đây là dạng tỉnh lược của một câu nghi vấn đầy đủ: Còn nguy cơ thứ ba là gì?. Do ngữ cảnh (cuộc đối thoại) mà người nghe hiểu đó là câu nghi vấn (dù phát âm với ngữ điệu nào đi nữa). Nếu đặt trong một ngữ cảnh khác thì nó không còn là câu nghi vấn nữa, ví dụ:

–  Còn nguy cơ nào nữa không?

–  Còn nguy cơ thứ ba.

Ví dụ này cũng cho thấy còn (đứng đầu câu) cũng không phải là dấu hiệu đặc thù của câu nghi vấn.

Có những cấu trúc mà ta chỉ có thể xác định là nghi vấn hay trần thuật khi vận dụng những phép cải biến, thay thế để biết được một từ nào đó trong cấu trúc hoạt động như là từ nghi vấn hay phiếm định, chẳng hạn như: Ông ấy mua mấy con cá. / Ông ấy mua mấy con cá?. Nếu có thể thay mấy bằng một từ chỉ lượng như vài, dăm, v.v., thì câu trên là câu trần thuật, v.v. Tuy nhiên những trường hợp mơ hồ như vậy rất ít khi gặp và dường như ngôn ngữ nào cũng có.

Những kiến thức về câu phủ định trong phần thuật ngữ này là chi tiết, cụ thể, một số chỗ là kiến thức nâng cao, vì vậy, các em hãy cố gắng đọc và tìm thêm các ví dụ để củng cố bài cho mình
Tìm đọc thêm: 
- Hoạt động giao tiếp

- Khái niệm đoạn văn đòn bẩy

- Khái niệm đoạn văn nêu giả thiết 


 
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

  Ẩn/Hiện ý kiến

Mã chống spam   

Những tin mới hơn

 

Những tin cũ hơn

Top