NGÔ GIA VĂN PHÁI

 - Người đăng bài viết: Thu Trang  - Chuyên mục :  Đã xem: 55 

Daytot.vn sưu tầm cho các em lớp THUẬT NGỮ NGÔ GIA VĂN PHÁI

 

NGÔ GIA VĂN PHÁI

Ngô gia Văn phái (Phái văn nhà họ Ngô) là một nhóm nhà văn Việt Nam thuộc dòng họ Ngô Thì ở làng Tả Thanh Oai xã Tả Thanh Oai  huyện Thanh Oai, trấn Sơn Nam (nay thuộc huyện Thanh Trì, Hà Nội).

Các trước tác của các thành viên trong Ngô gia Văn phái, về sau được tập hợp lại thành bộ sách Ngô gia Văn phái đồ sộ.

Bộ sách do Ngô Thì Trí đề xướng và khởi công biên soạn tập đầu tiên. Ngô Thì Điển (con Ngô Thì Nhậm và là cháu Ngô Thì Trí) làm công tác biên tập. Trong sách có 2 bài tựa, một là của Phan Huy Ích, hai là của Ngô Thì Trí.

Đây là bộ sách có tính chất sưu tập nhằm nêu cao truyền thống văn hóa, văn học của họ Ngô Thì, chứ không có tính chất một hợp tuyển hay một tổng tập của những tác giả cùng một trường phái, một khuynh hướng tư tưởng và sáng tác.

Lúc đầu, chỉ gồm các tác giả từ Ngô Chi Thất (1635-1713) ,Ngô Trân(1671-1761),Ngô Thì Ức đến Ngô Thì Điển, về sau được bổ sung thêm cho đến tác giả cuối cùng Ngô Giáp Đậu (1853-1929), tổng cộng là 20 người, trong đó có nhiều tác giả nổi bật như Ngô Thì Sĩ, Ngô Thì Nhậm, Ngô Thì Hương,…

Các trước tác đều bằng chữ Hán, bao gồm đủ các thể loại, nhiều nhất là thơ, rồi tới phú, truyện ký, tự, bạt, khải, biểu, tấu, sớ…Hiện có nhiều bản chép tay trong các thư viện, nhưng tương đối đầy đủ hơn cả là hai bộ sách mang ký hiệu A117a và VHv.1743 ở Thư viện Viện nghiên cứu Hán Nôm (Hà Nội).

TÁC GIẢ

 1.Ngô Chi Thất (1635-1713) thuộc chi ất,đỗ đầu khoa Sỹ vọng rồi tiếp đỗ đầu khoa Hoành từ làm quan đến Hộ bộ Tả Thị lang, tước Thê Hiển Hầu,sinh ba con trai: Ngô Đình Quế thi trúng tam trường,Ngô Đình Thạc tức Oanh,và Ngô Đình Chất (Đình Óanh) đều đỗ Tiến sỹ làm quan đến Thượng thư tước Quận công.

Ngô Chi Thất và Ngô Trân đề xướng và dựng nên Văn phái,về sau được mệnh danh là “Ngô gia Văn phái” gồm 20 Tác gia thuộc 9 thế hệ,trên dưới 200 năm,từ đầu thế kỷ thứ 17 đến đầu thế kỷ thứ 20.

2.Ngô Tuấn Dị  (1655-…)Tiến sỹ,

Tự Minh Tuệ (đời thứ 28 chi ất),con Ngô Đức Tuấn,em Ngô Tuấn Cung, là người mở đầu Đại khoa họ Ngô Thì Tả thanh oai.34 tuổi đỗ Đệ tam giáp Đồng Tiến sỹ xuất thân khoa Mậu Thìn niên hiệu Chính Hoà năm thứ 9(1688),làm quan đến chức Hàn lâm viện Hiệu thảo,Thị lang.Nhân dân lập đền thờ ông ở xã Xuân Dương huyện Xuân Thuỷ tỉnh Nam Định.Dân gian vùng này có câu “Tuấn Cung, Tuấn Dị hữu nhị vô tam”(Tuấn Cung là anh Tuấn Dị ,đỗ Cử nhân làm Tri huyện).

3.Ngô Trân (1671-1761)  Tự Đan Nhạc,con Ngô Vân,một trong Thất hổ của đất Thăng Long đương thời, đỗ  khoa Hoành từ,Cẩn sự tá lang ,Tri huyện huyện Anh Sơn, dạy học, đào tạo được nhiều khoa bảng.Sinh Ngô Thì Ức.Cùng Ngô Chi Thất đề xướng và dựng nên Ngô gia Văn phái.

4.Ngô Đình Thạc (1678-1740)    

Có tên là Ngô Đình Oanh,hiệu Nhân Trai,con Ngô Chi Thất,đỗ Tiến sỹ khoa Canh Thìn 1700 chức Tham tụng,Công bộ Thượng thư.Năm 1740 làm Tổng phủ phiên trấn Lạng Sơn gặp lúc Toản Cơ,một thủ lĩnh miền thượng nổi lên bao vây Đoàn Thành,ông bị bắt và bị giết ngay khi vừa mới đến nhậm sở. Tặng phong tước Huy Quận công,truy tặng hàm Thiếu bảo.

5.Ngô Đình Chất (Đình Oánh, 1686-1758) hiệu Thận Trai,đỗ Tiến sỹ khoa Tân Sửu 1721 chức Công bộ  Thượng thư ,Đô Ngự sử 1724 ,Chưởng đốc Sơn Nam 1741,tước Xuyên Quận công. Đời thứ 29,chi ất.

Ngô Đình Chất quê xã Tả Thanh Oai, huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Đông nay thuộc huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội. Anh Ngô Đình Chất là Ngô Đình Thạc, từng đỗ tiến sĩ và làm Tổng phù ở Lạng Sơn.

Năm 1721 thời Lê Dụ Tông, Ngô Đình Chất đỗ đồng tiến sĩ. Ông đổi tên là Ngô Đình Oánh. Ban đầu ông làm chức ở Viện Hàn lâm, sau đó ra làm Hiến sát sứ Thanh Hoa. Được ít lâu, ông về triều làm Thiêm sai, kiêm Phó đô ngự sử.

Năm 1740, Đàng Ngoài có nhiều nông dân nổi dậy chống triều đình, trong khi đó chúa Trịnh Giang chơi bời làm hỏng chính sự. Anh ông là Ngô Đình Toản bị quân nổi dậy Toản Cơ giết chết. Ngô Đình Chất cùng các đại thần bàn đưa em Trịnh Giang là Trịnh Doanh lên ngôi. Từ đó tình hình dần dần ổn định trở lại.

Nhờ công ủng hộ Trịnh Doanh, ông được thăng làm Tuyên lực công thần, phong chức Thượng thư bộ Binh, tước Phương Đình hầu.

Khi giữ chức quyền Tể tướng, ông có trách nhiệm cất nhắc quan lại, ổn định kỷ cương trong triều, làm việc nghiêm túc và trong sạch[1]. Trịnh Doanh mến tài ông, khen là “thanh, thận, trung, cần” (trong sạch, cẩn thận, trung thành và siêng năng).

Năm 1750, ông đã 65 tuổi, bèn xin nghỉ hưu. Trịnh Doanh không muốn để ông về. Ông phải xin 3 lần mới được chấp thuận và tới năm sau (1751) ông mới chính thức được về. Các quan tiễn đưa trọng thể, văn thơ chúc tụng thắm thiết[1].

Khi triều đình có việc, vua Lê Hiển Tông và chúa Trịnh Doanh lại triệu ông ra làm Bồi tụng. Năm 1758, Ngô Đình Chất qua đời, thọ 73 tuổi, được truy tặng Thái bảo, tước Nhuệ quận công.

6.Ngô Thì Ức (1709–1736), hiệu: Tuyết Trai cư sĩ,sinh năm Kỷ Sửu (1709) tại làng Tả Thanh Oai, huyện Thanh Oai, trấn Sơn Nam (nay thuộc huyện Thanh Trì, Hà Nội).

Thuở nhỏ, ông học với thầy Đan Nhạc, vừa lớn lên ông học với Tiến sĩ Vũ Huy. Ông học giỏi, đàn giỏi và giỏi cả nghề thuốc.

Năm 24 tuổi thi đỗ Hương cống. Là con người không để chí vào con đường khoa hoạn, ông chỉ chú tâm vào sáng tác văn chương nên sớm có tác phẩm Nam trình liên vịnh tập gồm 30 bài thơ ngâm vịnh với người bạn là Trương Hạo Trai khi đi chơi ở Đông Quan, Sơn Nam. Theo Phan Huy Chú thì Ngô Thì Ức còn có tác phẩm An Nam chí, tiếc là nay không còn thấy văn bản.Tác phẩm chính của ông là:

Nam trình liên vịnh tập (Tập thơ ngâm nối vần cùng bạn trên hành trình về phía Nam) gồm khoảng 30 bài ngâm vịnh với bạn là Trương Hạo Trai khi đi chơi ở Đông Quan thuộc Sơn Nam (nay thuộc Thái Bình). Trong tập có bài đề tựa của con ông là Ngô Thì Sĩ.

và Nghi vịnh thi tập (Tập thơ vịnh thú sông Nghi)… Tuyết Trai thi tập, còn gọi là Nghi vịnh thi tập gồm 90 bài thơ. Qua thơ, ta thấy ông là một con người tài hoa, ưa thích cuộc sống tiêu dao nhàn tản, thoát khỏi mọi công danh tục lụy. Bài thơ Tiêu dao ngâm của ông, Phan Huy Chú nhận xét là đầy hứng thú, phóng khoáng, cao thượng của một danh sỹ thanh khiết kiểu Đào Tiềm.

Ông là cha Ngô Thì Sĩ, Ngô Thì Đạo; và là ông nội Ngô Thì Nhậm, Ngô Thì Du, Ngô Thì Hương, Ngô Thì Trí…

Năm Bính Thìn (1736) đời vua Lê Ý Tông, ông mất khi mới 27 tuổi. Nhờ có con là Ngô Thì Sĩ làm quan lớn, nên về sau ông được triều đình truy phong là Phong Trạch bá.

7.Ngô Thì Sĩ (1726–1780), tự: Thế Lộc, hiệu: Ngọ Phong,       

Ngô Thì Sĩ sinh ngày 20 tháng 9 năm Bính Ngọ (tức 15 tháng 10 năm 1726) tại làng Tả Thanh Oai (làng Tó), huyện Thanh Oai, trấn Sơn Nam (sau thuộc tỉnh Hà Đông, và nay thuộc huyện Thanh Trì Hà Nội).

Ông sinh ra trong một dòng họ lớn [3] ở làng, có nhiều người nổi tiếng hay chữ…

Ông nội ông là Ngô Trân, hiệu Đan Nhạc, là một người nổi tiếng về sức học uyên bác và tài văn chương, được người đương thời liệt là một trong “bảy con hổ của kinh thành Thăng Long” (Trường An thất hổ).

Ông là con trưởng Ngô Thì Ức, cũng nổi tiếng hay chữ. Năm 14 tuổi, ông Ức đỗ thứ hai kỳ thi Hương nhưng sau đó hỏng liền hai khoa thi Hội, nên không để chí vào khoa cử nữa. Khi Ngô Thì Sĩ lên 10 tuổi, thì ông Ức mất.

Từ 7 đến 11 tuổi, Ngô Thì Sĩ được ông nội rèn dạy. Sau đó, ông được cho ra Thăng Long theo học các bậc danh nho như Nghiêm Bá Đĩnh, Nhữ Đình Toản [4]. Năm Quý Hợi (1743), Ngô Thì Sĩ thi đỗ Hương tiến (Cử nhân), nhưng bị hỏng khoa thi Hội ngay sau đó.

Năm 1752, Ngô Thì Sĩ lại đi thi Hội, nhưng bị khảo quan Trần Tố đánh hỏng (vì “nhầm”)[5]. Chúa Trịnh Doanh rất tiếc, truất chức của Trần Tố và trao cho Ngô Thì Sĩ chức Thiêm tri Công phiên thẩm ứng vụ (trước đó ông giữ một chức nhỏ trong Binh tào).

Năm 1756, nhân đỗ đầu một kỳ thi tuyển người, Ngô Thì Sĩ trở thành một thành viên trong Văn ban của phủ chúa Trịnh, được giao trách nhiệm soạn thảo giấy tờ, và làm Tùy giảng cho con chúa là Thế tử Trịnh Sâm.

Năm 1761, ông được sai làm “bạn tiếp” tiếp sứ nhà Thanh sang sắc phong và điếu tang Lê Ý Tông.

Năm 1763, ông được cử làm Cấp sự trung công khoa.

Năm 1764, ông làm Giám sát ngự sử đạo Sơn Tây, rồi Đốc đồng Thái Nguyên (1765).

Năm Bính Tuất (1766), đời Cảnh Hưng, ông thi đỗ Hoàng giáp, năm sau (1767), được thăng Đông các hiệu thư rồi đổi làm Hiến sát sứ Thanh Hoa (tức Thanh Hóa). Khi ở đây, ông khai thác núi Bàn A dựng chòi xem sóng biển và lập hội Quan lan sào, tự mình làm hội trưởng.

Năm 1769, ông được về triều; năm sau (1770), làm Tham chính Nghệ An.

Năm 1771, ông coi việc chấm thi ở trường thi Nghệ An, bị Nguyễn Văn Chu, người ở Hà Tĩnh kiện vì ăn của đút của học trò, bị án “hoàn dân thụ dịch” (nghĩa là trả về làm dân chịu sai dịch) vào năm 1772 [6].

Năm 1774, chúa Trịnh Sâm đi tuần phương Nam, biết ông bị oan, mới có ý cất dùng. Năm 1775, cho triệu ông vào kinh giữ chức Hiệu lý Viện Hàn lâm kiêm Hiệu chính quốc sử, sau đó thăng Thiêm đô ngự sử.

Năm 1777, ông được bổ làm Đốc trấn Lạng Sơn. Trong thời gian ở đây, sau khi ổn định được tình hình địa phương, giúp dân an cư, ông đặt doanh Lộc Mã, dựng đình Kinh lược, sửa sang động Song Tiên, khai thác động Nhị Thanh làm cho nó trở thành một thắng tích.

Ngày 29 tháng 8 năm Canh Tý (tức 22 tháng 10 năm 1780), ông mất ở nơi đó, lúc 54 tuổi.

Ngô Thì Sĩ là cha của các danh sĩ: Ngô Thì Nhậm, Ngô Thì Chí, Ngô Thì Trí, Ngô Thì Hương và là cha vợ của Phan Huy Ích.

TÁC PHẨM

Sử học
Việt sử tiêu án (Những nghi án nêu lên trong sử Việt)

Đại Việt sử ký tiền biên

Đại Việt sử ký tục biên (soạn chung)

Văn học
Anh ngôn thi tập (Tập thơ chim vẹt học nói), quyển thượng và quyển hạ

Anh ngôn phú tập (Tập phú chim vẹt học nói)

Quan lan thi tập (Tập thơ xem sóng)

Nhị thanh động tập (Tập thơ làm ở động Nhị Thanh)

Khuê ai lục (Ghi nỗi buồn đau về chuyện phòng khuê)

Ngọ phong văn tập (Tập văn Ngọ phong), quyển nhất và quyển nhị

Hậu hiệu tần thi tập

Bảo chương hoằng mô

Sách chế khải tập

Khoa sớ tập biên

Theo Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam, ông còn có Hải Dương chí lược (hay Hải Đông chí lược).

 

8.Ngô Thì Đạo (1732–1802), hiệu: Ôn Nghị và Văn Túc,sinh năm Nhâm Tý (1732) tại làng Tả Thanh Oai, huyện Thanh Oai, trấn Sơn Nam (nay thuộc huyện Thanh Trì, Hà Nội).

Ông là con Ngô Thì Ức, là em trai của Ngô Thì Sĩ và là cha của Ngô Thì Du. Thuở nhỏ, ông học với ông nội là Ngô Trân. Lớn lên, ông lên kinh đô Thăng Long học với Tiến sĩ Nhữ Đình Toản.

Năm Quý Dậu (1753), ông đỗ Á nguyên khoa thi Hương.  

Năm Đinh Sửu (1757), ông đỗ Giải nguyên khoa Hoành từ, được bổ chức quan, rồi lần lượt trải các chức sau: Thị giảng Đông cung (1756), Tri huyện Thụy Anh (1758), Đại lý tự thừa (1767), Tri phủ Áng Đô (1767), Hiến đài Sơn Tây (1776), Hiến sát phó sứ kiêm ủy phủ sứ Kinh Bắc (1784)…

Sau đó, ông xin thôi việc quan. Từ năm Bính Ngọ (1786, là năm Nguyễn Huệ ra Bắc dẹp họ Trịnh), cho đến năm Kỷ Dậu (1789, là năm Nguyễn Huệ đánh tan quân nhà Thanh), Ngô Thì Đạo nhiều lần được người của Tây Sơn mời ra làm quan, song ông cứ tìm cách thoái thác.

Ngô Thì Đạo mất tại quê nhà vào tháng 10 năm Nhâm Tuất (1802), thọ 70 tuổi. Lúc này nhà Tây Sơn đã bị nhà Nguyễn đánh đổ, và vua Gia Long đã thu phục được toàn bộ đất nước.

Ngô Thì Đạo sáng tác nhiều, nhưng theo con ông là Ngô Thì Du thì các tác phẩm ấy đã “tản mát quá nửa, nay chỉ còn lại một tập bản thảo làm lúc cuối đời”. Sau, con cháu ông sưu tập thêm làm thành tập Hoành từ Hiến sát Văn Túc công di thảo (Bản thảo để lại của ông Văn Túc đỗ khoa Hoành từ, giữ chức Hiến sát). Ở Thư viện Viện nghiên cứu Hán Nôm (Hà Nội) hiện có bản chép tay .

Ngô Thì Đạo trước sau đều giữ lòng trung với nhà Hậu Lê, dứt khoát từ chối lời mời hợp tác với nhà Tây Sơn, khiến “Trần Văn Kỷ phải phục ông là người là có nghĩa khí”. Tuy vậy, ông cũng không tham gia với nhóm Nguyễn Danh Án, Trần Huy Túc chủ trương sang nhà Thanh cầu viện giúp vua Lê Chiêu Thống khôi phục ngôi vị. Trong Hoành từ Hiến sát Văn Túc công di thảo, ngoài thơ còn có những thư từ gửi cho người thân và các bài điều trần về công việc. Ông tỏ ra hết sức quan tâm đến sự nghiệp giáo dục của con em trong gia đình, và luôn đề cao đạo Nho, coi đó là một con “đường lớn”. Nhìn chung, qua các tác phẩm của Ngô Thì Đạo, người đọc bắt gặp một con người có hoài bảo, có ý thức trách nhiệm nhưng cũng đầy trăn trở, cái trăn trở của người sinh bất phùng thời, của một kẻ sĩ giữa thời biến loạn  .

9.Ngô Thì Nhậm (1746–1803), tự: Hy Doãn, hiệu: Đạt Hiên. Ông làm quan nhà Hậu Lê và là một danh sĩ nổi danh. Ngoài ra, ông còn là người có công lớn trong việc giúp triều Tây Sơn đánh lui quân Thanh xâm lược. Tác phẩm chính của ông là: Hàn các anh hoa, Doãn thi văn tập, Yên đài thu vịnh, Hoàng hoa đồ phả, Cúc đường bách  vịnh. Đỗ Tiến sỹ khoa Ất Mùi 1775. Ông từng làm thầy dạy chúa Trịnh Khải, rồi làm quan trải nhiều chức trọng. Năm 1782, quân tam phủ làm chuyện phế lập, Ngô Thì Nhậm phải lánh về quê vợ. Đến năm 1788, Nguyễn Huệ ra Bắc lần thứ hai, ông cùng nhiều kẻ sỹ Bắc Hà theo Tây Sơn. Nguyễn Huệ đã cho Ngô Thì Nhậm cùng Ngô Văn Sở cai quản Bắc Hà. Ngô Thì Nhậm là người đề ra chủ trương rút lui chiến lược về Tam Điệp, tạo điều kiện cho Quang Trung nhanh chóng tiêu diệt 29 vạn quân Thanh, giải phóng Thăng Long. Ông được thăng Binh bộ Thượng thư, tước Phương Quận công. Ngô Thì Nhậm còn là một trí thức danh tiếng, sự nghiệp văn chương lớn lao, để lại cho đời hơn 20 tác phẩm có giá trị, tiêu biểu là Hàn các anh hoa, Bang giao hảo thoại, Xuân thu quản kiến, Trúc Lâm tông chỉ nguyên thanh… Ông còn là Tổng tài Quốc sử quán, đã tổ chức biên soạn và cho in sách Đại Việt sử ký tiền biên mà thân phụ ông khởi soạn.

10.Ngô Thì Chí (1753-1788) tên chữ là Học Tốn, hiệu là Uyên Mật, là người làng Tả Thanh Oai, huyện Thanh Oai, trấn Sơn Nam (nay thuộc huyện Thanh Trì thành phố Hà Nội).

Ông là con trai thứ hai của Ngô Thì Sĩ, và là em ruột Ngô Thì Nhậm. Thi Hương, ông đỗ Á nguyên ,làm quan đến chức Thiêm thư bình chương tỉnh quốc.

Khi Nguyễn Huệ kéo quân ra Bắc Hà lần thứ hai (1788), Ngô Thì Chí chạy theo vua Lê Chiêu Thống. Lúc bấy giờ ông có dâng lên nhà vua bản Hưng trung sách (Sách lược trung hưng), bàn kế khôi phục nhà Lê.

Sau đó, nhà vua bèn phái ông lên Lạng Sơn (nơi cha ông làm Đốc trấn trước đây) chiêu mộ quân để chống lại quân Tây Sơn, nhưng ông đi tới huyện Phượng Nhỡn thì ốm nặng và mất ở huyện Gia Bình (Bắc Ninh) năm 1788. Khi ấy, ông mới 35 tuổi.

Thơ văn của ông không có câu nào nói đến việc quan trường. Tác phẩm chính của ông có: Học Phi thi tập, Học Phi văn tập và Hào thiên khoa sớ(Tập sớ khóc cùng trời cao). Ngô Thì Chí là người khởi đầu viết bộ tiểu thuyết lịch sử Hoàng Lê nhất thống chí 17 hồi, mà 7 hồi đầu thuộc phần chính biên do ông viết ban đầu có tên là Nhất thống chí. Sau này, Ngô Thì Du viết 7 hồi thuộc phần tục biên và đặt tên là Hoàng Lê nhất thống chí. Thơ, văn Ngô Thì Chí rất trong sáng, giản dị, chân thực. Đặc biệt, văn xuôi của ông rất trôi chảy, tự nhiên, mạch lạc và thật tài hoa. Ông còn viết nhiều lời bàn về văn học sâu sắc và lý thú.

11.Ngô Thì Trí (1766 – ?), hiệu là Dưỡng Hạo

Ngô Thì Trí là người ở làng Tả Thanh Oai, huyện Thanh Oai, trấn Sơn Nam (nay thuộc huyện Thanh Trì, Hà Nội).

Ông là con thứ 6 của danh sĩ Ngô Thì Sĩ. Lên 5 tuổi, ông mồ côi mẹ; 14 tuổi (1780), ông mồ côi cha, nên thường sống ở nhà người anh cả là Ngô Thì Nhậm.

Năm 1782, Trịnh Khải lên ngôi chúa. Ngô Thì Nhậm vì có liên quan đến vụ án năm Canh Tý nên phải bỏ trốn về quê vợ ở Thái Bình. Gia đình họ Ngô trước đã sa sút, nay thêm ly tán. Ông lớn lên trong gia cảnh ấy và trong một xã hội nhiều biến động.

Khi trưởng thành, Ngô Thì Trí ra làm quan cho nhà Lê, giữ việc biên soạn, tu thư ở sử quán. Năm 1788, Nguyễn Huệ ra Bắc lần thứ hai. Lúc này cả vua Lê và chúa Trịnh đều đã đổ. Ngô Thì Trí theo anh là Ngô Thì Nhậm ra làm quan cho nhà Tây Sơn, làm đến chức Hữu thị lang bộ Hộ, tước Bính Phong hầu.

Năm 1802, nhà Tây Sơn bị nhà Nguyễn tiêu diệt, ông về sống ẩn ở quê nhà.

Ông mất năm nào không rõ, nhưng phải sau năm 1826, vì năm này ông còn làm bài văn khấn thần xin tu sửa lại đình Hoa Xá.

Tác phẩm của Ngô Thì Trí chỉ có tập Sóc Nam hành kính (trên con đường xuyên Bắc Nam) bằng chữ Hán, gồm 26 bài thơ (tính theo đầu đề), 2 bài phú, 22 bài văn và một số câu đối.

Ngô Thì Trí không viết nhiều, ít khi đề vịnh. Nhưng những bài viết khi có việc (chủ yếu gửi cho anh em và con cháu) đều rất tình cảm, giản dị, chân thật. Ngoài ra, nhờ ông đề xướng (và khởi công biên soạn tập đầu tiên) việc sưu tập các tác phẩm của dòng họ Ngô Thì, mà ngày nay văn học Việt Nam còn lại được bộ sách Ngô gia văn phái đồ sộ [1].

12.Ngô Thì Điển (Thì Diễn,? – ?), tự: Kính Phủ, hiệu: Tĩnh Trai.

Ngô Thì Điển là người làng Tả Thanh Oai, huyện Thanh Oai, trấn Sơn Nam (nay là thuộc huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội).

Ông là con trai trưởng của danh sĩ Ngô Thì Nhậm. Chưa rõ năm sinh năm mất của ông, nhưng căn cứ vào tuổi của cha, và căn cứ vào sáng tác của ông, có thể đoán biết dưới thời Tây Sơn, ông đã trưởng thành.

Lúc trẻ, ông từng là Giám sinh ở Quốc tử giám, có đi dạy học ở Bắc Giang, và có ở Huế khoảng 10 năm, nhưng không rõ ông có làm quan cho nhà Nguyễn hay không.

Theo đề xướng của chú là Ngô Thì Trí, ông đã bỏ công sức biên tập và làm ra bộ sách Ngô gia văn phái đồ sộ [1].

Ông còn để lại tập Dưỡng chuyết thi văn (Thơ văn nuôi dưỡng cái chí vụng về).

13.Ngô Thì Hoàng (1768–1814), còn có tên là Tịnh, hiệu: Huyền Trai, biệu hiệu: Thạch Ổ cư sĩ. Năm Đinh Mão (1807), ông thi đỗ tú tài dưới triều Nguyễn. Tác phẩm của ông chỉ có Thạch Ổ di chương.

 Là một danh sĩ ở cuối thế kỷ 18 đến đầu thế kỷ 19 trong lịch sử Việt Nam.

Ngô Thì Hoàng sinh năm Mậu Tý (1768) tại làng Tả Thanh Oai, huyện Thanh Oai, trấn Sơn Nam (nay là thuộc huyện Thanh Trì, Thành phố Hà Nội).

ông là con Ngô Thì Sĩ, và là em cùng cha khác mẹ với Ngô Thì Nhậm. Năm Đinh Mão (1807), ông thi đỗ tú tài dưới triều Nguyễn.

Năm Giáp Tuất (1814), ông mất. Cháu ông là Ngô Thì Điển có làm bài Điện tiên thúc Thuyền Trai Công (Ông chú là Huyền Trai) để điếu, trong đó có câu: Chú sống ở đời 47 năm, văn chương như vậy, đức hạnh như vậy, sao trời khắc khe về công danh, lại nở hẹp hòi về tuổi thọ.

Sáng tác của Ngô Thì Hoàng chỉ có Thạch Ổ di chương, gồm cả thơ, phú, văn xuôi. Phần lớn đều nói về đạo lý, tình yêu thiên nhiên và tâm tư của tác giả.

Tác phẩm này có chép trong Ngô gia văn phái (bản chép tay) hiện lưu trữ trong Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm Hà Nội .

14.Ngô Thì Du (1772–1840), tự: Trưng Phủ, hiệu: Văn Bác.  

Là cháu gọi Ngô Thì Sĩ bằng bác ruột. Ngô Thì Du có chí học tập và học giỏi, nhưng không may mắn trong khoa hoạn. Mãi đến năm ông 40 tuổi, triều đình nhà Nguyễn xuống chiếu về việc tiến cử người tài, bạn bè khuyên ông ra làm quan và có người tiến cử, ông được bổ Đốc học Hải Dương. Nhưng chẳng bao lâu sau, ông xin được từ chức, về ở quê nhà. Tác phẩm chính của Ngô Thì Du là Trưng Phủ công thi văn gồm 76 bài, nội dung chủ yếu xoay quanh số phận cùng diễn biến tư tưởng của người trí thức nghèo trong xã hội có nhiều biến động đương thời. Văn chương ông rất trong sáng, chân chất, nhất là văn xuôi, rất cứng cáp và mạch lạc. Tác phẩm của Ngô Thì Du có sức truyền cảm rất sâu, khiến người đọc nhiều khi cảm thương da diết. Ông là người viết 7 hồi trong phần tục biên của tác phẩm Hoàng Lê nhất thống chí..

15.Ngô Thì Hương (1774–1821) còn có tên là Vị, tự: Thành Phủ, hiệu: Ước Trai. Ông lớn lên trong cảnh gia đình họ Ngô Thì đã sa sút, cha đã qua đời và anh cả là Ngô Thì Nhậm thì đang gặp chuyện phiền phức, nên việc học hành của Ngô Thì Hương không được chu đáo. Lượng tác phẩm của ông không nhiều như Ngô Thì Sĩ, Ngô Thì Nhậm, nhưng những bài viết về bản thân, về gia đình là những tác phẩm văn chương dồi dào cảm xúc và chứa đựng nhiều vấn đề cuộc sống đương thời, rất có giá trị. Tác phẩm của ông có Mai dịch thú dư(Cỗ xe sứ trạm), Thù phụng toàn tập (Toàn tập xương họa) và một số tác phẩm rải rác trong nhiều năm sau này được con cháu tập hợp trong Thành Phủ công di thảo. Tài năng văn chương của Ngô Thì Hương thể hiện ở nội dung các tác phẩm tha thiết tự hào về đất nước, về dân tộc và thể hiện qua cách viết nhẹ nhàng, nhưng dí dỏm, sâu sắc. Đó là phẩm chất hiếm thấy trong thơ văn chữ Hán ở nước ta xưa kia.

 Khi Gia Long lên ngôi (1802), ông ra làm quan triều Nguyễn, và 2 lần được cử đi sứ sang Trung Quốc.   

16.Ngô Thì Hiệu (1791–1830), tự: Tử Thị, hiệu: Dưỡng Hiên, biệt hiệu: Hoa Lâm tản nhân. Tuy ông chỉ là Giám sinh nhưng sáng tác khá nhiều thơ văn. Tác phẩm chính của ông là: Nam du thi tập, Lạng hành ký sự, Quan ngư ký, Khôn trinh ký lục, Dạ trạch phú ký…

17.Ngô Thì Giai (1818–1881), tự: Cường Phù, hiệu: Vân Lâm cư sĩ, biệt hiệu: Thanh Xuyên. Ông là danh sĩ đời vua Tự Đức, có nhiều thơ văn được chép trong bộ sách Ngô gia văn phái, và ông cũng là người cuối cùng được biên chép trong bộ sách này. Con ông là Ngô Giáp Đậu, tác giả sách quyển truyện lịch sử Hoàng Việt hưng long chí.

18.Ngô Thì Thập tham gia viết Hoàng Lê nhất thống chí .

19.Ngô Thì Lữ ,Hiệp trấn Hải Dương ,con Ngô Thì Chí.

 20.Ngô Giáp Đậu (1853-1929) con Ngô Thì Giai,

Ông sinh tại làng Tả Thanh Oai, huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Đông cũ; nay thuộc huyện Thanh Trì thành phố Hà Nội.

Ông thuộc dòng dõi của Ngô Thì Sĩ, Ngô Thì Nhậm, Ngô Thì Chí…Năm 1891, ông thi đỗ cử nhân khoa Tân Mão tại trường thi Hà Nam (tức trường Hà Nội và Nam Định hợp thi), được bổ làm hành tẩu, sau chuyển sang ngạch học quan từ chức giáo thụ lên đến chức đốc học.

Ngô Giáp Đậu là người suốt đời tận tụy với nghề dạy học và biên soạn sách (đa phần là sách sử). Tác phẩm của ông gồm có:

Hoàng Việt hưng long chí (chữ Hán, soạn từ năm 1899, hoàn thành và đề tựa năm 1904): là một truyện chương hồi, viết về lịch sử xây dựng vương triều Nguyễn, từ Nguyễn Hoàng (1524-1613) đến Gia Long (1762-1820).

Trung học Việt sử toát yếu (chữ Hán, 4 quyển, soạn năm:?, in năm 1911): Tóm lược lịch sử Việt Nam biên niên dành cho bậc trung học.

Đại Nam Quốc túy (soạn năm 1908): tập hợp 1.800 câu thành ngữ, tục ngữ và 600 câu ca dao Việt Nam. Đề tựa và lời dẫn đều bằng văn xuôi Nôm.

Hiện kim Bắc Kỳ địa dư sử (soạn 1908): là cuốn địa lý, lịch sử Bắc Kỳ cuối thế kỷ 19 đến đầu thế kỷ 20.

Trung học Việt sử biên niên toát yếu (chữ Hán, soạn năm:?, in năm 1911): Sách giáo khoa tóm lược lịch sử Việt Nam dành cho bậc trung học.

Mạnh học Trung cao đẳng giáo khoa thư (chữ Nôm, soạn năm 1913): Sách giáo khoa mở đầu bậc trung cao đẳng.

Thanh Oai Ngô gia thế phả (soạn năm:?): Gia phả các đời của họ Ngô. Đây là tài liệu quí cho việc tìm hiểu nhiều tác gia của Ngô gia văn phái.

(Cộng 9 thế hệ,250 năm,20 Tác gia)

Ngô gia Văn phái đã phản ánh được rất nhiều mặt, như: tình hình đời sống xã hội, chính trị, văn hóa, văn học…của nước Việt Nam, trải qua các triều đại nhà Hậu Lê, nhà Tây Sơn và nhà Nguyễn (tức nửa cuối thế kỷ 18 đến một phần của thế kỷ 19). Cùng thời với họ Ngô Thì ở Tả Thanh Oai, có thể kể đến họ Nguyễn ở Tiên Điền (Hà Tĩnh), họ Nguyễn Huy ở Trường Lưu (Hà Tĩnh), nhưng có lẽ không một họ nào ở nước Việt có đông đảo người sáng tác, trước tác với một quy mô rộng lớn và phong phú như họ Ngô Thì. Tuy nhiên, do mức độ tài năng, quan điểm xã hội và nhân sinh của mỗi người nên giá trị của từng tác giả, từng tác phẩm có chỗ không đồng đều.

( Sử dụng tư liệu trong Bách khoa toàn thư mở Wikipedia , Lịch sử họ Ngô Việt Nam của Ngô Đức Thắng và bài báo cuả Anh Chi-Hân Dung trên trang mạng).

 Họ  Ngô Thì Tả Thanh Oai (từ đời 21)

Dòng Thanh Quốc công Ngô Khế

huyện Thanh Trì thành phố Hà Nội

Cùng xã Tả Thanh Oai huyện Thanh Trì thành phố Hà Nội có hai họ Ngô khác dòng, họ có Thuỷ tổ Ngô Bồ  đốc được gọi họ Ngô Vy,họ có Thuỷ tổ Ngô Phúc Cơ được gọi họ Ngô Thời để phân biệt.

Hiện nay phả ký họ Ngô Thời còn tản mạn,mỗi chi phái chỉ chép chi phái mình ,không chắp nối được lên trên,nhiếu chi phái không có phả gốc,niên đại giữa các chi phái  về sau không khớp,phần nhiều bị gián đoạn,nói chung sưu tầm còn thiếu nhiều,cả họ chưa thể có bản phả thống nhất thế thứ.

Dưới đây tôi tạm chép theo tư liệu mỗi chi họ,phần chung là dựa vào một bản phả chữ Hán tìm được ở huyện Tiền Hải tỉnh Thái Bình.Bản phả này do chi ất sao lại có bổ sung vào năm Tự Đức thứ 12-1871-(cụ Ngô Ái chép).Các thế hệ gần đây còn thiếu nhiều,sau này phải bổ sung.

Tìm đọc thêm:

- Tác giả Lê Minh Khuê 

- Tác giả Phạm Tiến Duật 

- Tác giả Thanh Thảo 


 
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

  Ẩn/Hiện ý kiến

Mã chống spam   

Những tin mới hơn

 

Những tin cũ hơn

Top